Vành đai 5 Vùng Thủ đô: 349 km và bước chuyển từ chủ trương sang triển khai
Sau khi chủ trương đầu tư được Quốc hội thông qua, dự án đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội đang chuyển sang giai đoạn chuẩn bị triển khai với quy mô 349 km, 28 dự án thành phần và tổng mức đầu tư sơ bộ 288.268 tỷ đồng. Việc phân định trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, chuẩn bị nguồn vốn, mặt bằng và tổ chức quản lý dự án đang trở thành những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới.
Một tuyến vành đai liên kết 7 địa phương
Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội là dự án giao thông có phạm vi triển khai rộng, đi qua địa bàn 7 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Nguyên và Phú Thọ.
Theo chủ trương đầu tư đã được thông qua, toàn tuyến có chiều dài khoảng 349 km, được tổ chức thành 28 dự án thành phần. Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án khoảng 288.268 tỷ đồng, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước được bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn cùng các nguồn vốn hợp pháp khác.
Về tiến độ, công tác chuẩn bị đầu tư được triển khai từ năm 2026, dự kiến thực hiện từ năm 2027 và mục tiêu đặt ra là hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.
Với phạm vi trải dài qua nhiều địa phương, việc triển khai Vành đai 5 không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực đầu tư mà còn đòi hỏi cơ chế phối hợp thống nhất giữa các cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương.
Không triển khai đồng loạt, ưu tiên những đoạn đã sẵn sàng về nguồn lực
Một trong những điểm đáng chú ý trong phương án tổ chức thực hiện là dự án được phân kỳ theo khả năng cân đối vốn.
Đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách Trung ương được bố trí vốn trong giai đoạn 2026–2030, mục tiêu là cơ bản hoàn thành vào năm 2030 và đưa vào khai thác từ năm 2031.
Trong khi đó, những dự án thành phần sử dụng ngân sách địa phương sẽ được các tỉnh, thành phố chủ động xem xét trên cơ sở khả năng cân đối nguồn lực và điều kiện triển khai thực tế.
Cách tiếp cận này cho phép nguồn lực được tập trung trước vào những đoạn tuyến có điều kiện triển khai thuận lợi, đồng thời tạo cơ sở để từng bước hình thành mạng lưới giao thông liên vùng thay vì chờ toàn bộ dự án hoàn tất mới đưa từng phần vào khai thác.
Đáng chú ý, nhóm dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và xây dựng đường cao tốc trên phạm vi từ cầu Thái Hà đến nút giao với cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn, dài khoảng 116 km, đi qua Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên và Ninh Bình, được đề xuất ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2026–2030.
Theo phương án đề xuất, những đoạn được cân đối vốn trong giai đoạn này sẽ hướng tới mục tiêu cơ bản hoàn thành năm 2030 và khai thác từ năm 2031.
Đường song hành được đặt trong cùng bài toán với tuyến cao tốc
Một vấn đề khác được đặt ra trong quá trình triển khai Vành đai 5 là bảo đảm giao thông dân sinh khi các đoạn cao tốc được đưa vào sử dụng.
Theo đó, các địa phương được đề nghị ưu tiên triển khai những dự án thành phần xây dựng đường song hành tương ứng với các đoạn cao tốc được lựa chọn đầu tư trong giai đoạn 2026–2030.
Việc đầu tư song hành có ý nghĩa trong việc duy trì khả năng kết nối của khu dân cư, các khu vực sản xuất và hoạt động giao thông địa phương trong quá trình tuyến cao tốc vận hành.
Các dự án thành phần chưa thuộc nhóm ưu tiên sẽ tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm sự đồng bộ với toàn tuyến, hướng tới mục tiêu hoàn thành trước năm 2035.
Phân cấp mạnh hơn trong tổ chức thực hiện
Với một dự án có quy mô liên tỉnh, bài toán xác định cơ quan chủ quản có vai trò quan trọng đối với tiến độ chuẩn bị và triển khai.
Trên cơ sở chủ trương phân quyền, phân cấp, Bộ Xây dựng đề xuất nguyên tắc các dự án thành phần về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đường song hành và tuyến chính cao tốc nằm trên địa bàn địa phương nào thì địa phương đó đảm nhận vai trò cơ quan chủ quản theo phạm vi được phân công.
Cách tổ chức này hướng tới việc tăng tính chủ động cho chính quyền địa phương, đồng thời rút ngắn quá trình phối hợp trong các công việc liên quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng.
Tuy nhiên, với những công trình có tính chất đặc biệt hoặc phạm vi ảnh hưởng liên tỉnh, phương án phân công có thể được xem xét theo hướng giao cơ quan Trung ương trực tiếp làm cơ quan chủ quản.
Trường hợp DATP II-3, xây dựng đường cao tốc qua địa bàn thành phố Hải Phòng, UBND TP Hải Phòng đã đề nghị giao Bộ Xây dựng làm cơ quan chủ quản.
Đối với DATP II-8A – xây dựng cầu Thái Hà và cầu Sông Luộc và DATP II-8B – xây dựng cầu Vĩnh Thịnh, do đây là các công trình cầu lớn đi qua địa bàn hai tỉnh, thành phố, Bộ Xây dựng kiến nghị Chính phủ xem xét giao Bộ làm cơ quan chủ quản.
Chuẩn bị mặt bằng ngay trong giai đoạn đầu
Đối với một dự án hạ tầng quy mô lớn, giải phóng mặt bằng thường là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công.
Vì vậy, một số cơ chế đang được đề xuất theo hướng cho phép địa phương triển khai sớm các công việc liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngay trong giai đoạn chuẩn bị dự án.
Việc xác định các khu vực tiếp nhận chất thải xây dựng cũng được đặt trong quá trình chuẩn bị nhằm hạn chế phát sinh vướng mắc khi bước vào thi công.
Mục tiêu của cách làm này là sớm hình thành mặt bằng sạch, tạo điều kiện để các nhà thầu có thể tổ chức thi công đồng thời trên nhiều phạm vi, qua đó giảm thời gian chờ đợi giữa các công đoạn.
Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cũng đề xuất một số cơ chế liên quan đến trình tự, thủ tục và thẩm quyền thẩm định, quyết định đầu tư đối với các dự án thành phần xây dựng đường cao tốc; đồng thời đề cập việc tổ chức thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo cơ chế được ủy quyền.
Các nội dung liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang mục đích khác cũng được đặt ra trong quá trình hoàn thiện cơ chế triển khai dự án.
Các ban quản lý dự án đề xuất tham gia
Cùng với việc xác định cơ quan chủ quản, năng lực quản lý dự án cũng đang trở thành một nội dung được quan tâm.
Ban Quản lý dự án Thăng Long – đơn vị đảm nhận vai trò chủ đầu tư ở bước lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi – đã đề nghị Bộ Xây dựng xem xét giao đơn vị tiếp tục làm chủ đầu tư DATP II-8A, gồm cầu Thái Hà và cầu Sông Luộc.
Đề xuất được đưa ra trên cơ sở đơn vị đã phối hợp triển khai hồ sơ báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và mong muốn tiếp tục phát huy kinh nghiệm, nhân lực trong giai đoạn xây dựng.
Trong khi đó, Ban Quản lý dự án Đường sắt cũng đề xuất được giao nhiệm vụ chủ đầu tư một số dự án thành phần thuộc Vành đai 5.
Theo nội dung đề xuất, đơn vị này viện dẫn kinh nghiệm quản lý nhiều dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, trong đó có các đoạn cao tốc Bắc – Nam phía Đông như Nghi Sơn – Diễn Châu, Diễn Châu – Bãi Vọt, Vũng Áng – Bùng, Bùng – Vạn Ninh; dự án thành phần 2 cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột và dự án cải tạo, nâng cấp tuyến tránh Quốc lộ 6 đoạn qua Hòa Bình.
Việc các đơn vị quản lý dự án đề xuất tham gia cho thấy yêu cầu về năng lực tổ chức, điều hành và kiểm soát chất lượng sẽ đóng vai trò quan trọng khi Vành đai 5 bước vào giai đoạn triển khai thực tế.
Địa phương bắt đầu chuẩn bị nguồn lực
Cùng với cơ chế phân cấp, khả năng cân đối vốn của từng địa phương là yếu tố quyết định đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách địa phương.
Một trong những thông tin đáng chú ý là HĐND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Nghị quyết số 59/NQ-HĐND ngày 28/9/2026, thống nhất chủ trương bố trí ngân sách địa phương giai đoạn 2026–2030 khoảng 7.993 tỷ đồng để thực hiện các dự án thành phần thuộc Vành đai 5 trên địa bàn tỉnh.
Tại Hải Phòng, UBND thành phố cho biết sẽ chủ động rà soát phạm vi và quy mô để triển khai công tác giải phóng mặt bằng cũng như đầu tư đường song hành, hướng tới bảo đảm hiệu quả tổng thể của dự án đến năm 2035.
Địa phương này đồng thời thống nhất phương án giao Bộ Xây dựng làm cơ quan chủ quản DATP II-3, trong khi UBND TP Hải Phòng làm cơ quan chủ quản đối với DATP I-3, liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và DATP III-3, liên quan đến xây dựng đường song hành trên địa bàn thành phố.
Giai đoạn quyết định hiệu quả của dự án
Vành đai 5 – Vùng Thủ đô đang đứng trước một giai đoạn mới: từ việc xác lập chủ trương đầu tư sang tổ chức thực hiện trên thực địa.
Với quy mô 349 km, 28 dự án thành phần và tổng mức đầu tư sơ bộ 288.268 tỷ đồng, dự án đòi hỏi sự phối hợp liên tục giữa Trung ương và 7 tỉnh, thành phố.
Trong ngắn hạn, các nhiệm vụ có tính quyết định gồm hoàn thiện cơ chế thực hiện, xác định rõ cơ quan chủ quản, chuẩn bị nguồn vốn, đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và hoàn thiện hồ sơ đầu tư đối với các dự án được ưu tiên.
Nếu các đoạn tuyến được cân đối vốn giai đoạn 2026–2030 hoàn thành theo kế hoạch, đưa vào khai thác từ năm 2031, Vành đai 5 sẽ từng bước hình thành các trục kết nối quan trọng giữa các địa phương trong vùng.
Phần còn lại của dự án sẽ tiếp tục được triển khai để hướng tới mục tiêu hoàn thiện toàn tuyến trước năm 2035.
Như vậy, thách thức lớn nhất của Vành đai 5 trong thời gian tới không còn chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà là khả năng biến chủ trương thành tiến độ thực tế, trong đó nguồn vốn, mặt bằng, cơ chế phối hợp và năng lực quản lý dự án sẽ là những yếu tố then chốt.

